BÀI 454 – Cây ngái (sung dại)

Cây ngái hay sung dại mọc hoang rất nhiều ngoài tự nhiên. Trong dân gian từ lâu đã quen dùng dược liệu này để trị mụn nhọt, sốt rét, trĩ nội trĩ ngoại hay kiết lị, sỏi thận. Nhiều người còn cho rằng nó còn có tác dụng tốt đối với việc loại bỏ phong thấp, giảm đau ở xương… Thế nhưng, cũng không ít ý kiến cho rằng quả ngái gây ngộ độc. Vậy thực hư công hiệu và độc tố của chúng thế nào, bài viết sau sẽ nêu chi tiết.

Hình ảnh cây ngái ngoài tự nhiên

Cây ngái là cây gì?

Ngái là một loại sung dại được mô tả lần đầu tiên trong tài liệu hiện đại vào năm 1972. Theo đó, nó có danh pháp khoa học là Ficus Hispida L.f, họ Dâu tằm (Moraceae).

  • Tên dược liệu: Cây ngái
  • Tên gọi khác: Sung ngái, Ngái sung, Sung dại, Sung rừng, Dã vô hoa, Mạy mọt (tiếng Tày), Loong tốt (tiếng Cadong), Chị cu điăng (tiếng Dao)
  • Danh pháp khoa học: Ficus Hispida L.f
  • Họ: Dâu tằm Moraceae

Đây là loài cây mọc dại khá dễ nhầm lẫn với một số loại sung và cây vả. Nhiều người cho rằng quả ngái không ăn được như sung, vì nó có độc. Thế nhưng nhiều nơi lại dùng những bộ phận của cây này để trị bệnh.

Mô tả dược liệu

Do có lá, quả đều rất giống với sung và vả nên bạn cần nhận biết rõ hình ảnh cây ngái ra sao để phân biệt. Chúng có đặc điểm:

  • Thân cây: Là loại thân gỗ nhỡ, rỗng ở trong. Chúng thường cao từ 5 – 7m và phân nhiều nhánh (đối xứng) rất chắc khỏe. Khi còn non, cành ngái khá mềm, bề ngoài có lông hơi nhám nâu bao quanh. Đến lúc về già thì nhẵn, cứng, nếu chặt hoặc bẻ ngang thân cây thường chảy mủ trắng.
  • Lá cây: Lá ngái mọc đối xứng trên các đốt cành. Toàn phiến lá có hình bầu dục, những lá ở gốc thường tròn và ngắn hơn lá gần ngọn. Tổng chiều dài khoảng 15 – 30cm. Ở mép lá có răng cưa và chóp nhọn. Bề mặt trên dưới xanh, chứa các lông nháp, tạo cảm giác thô ráp khi sờ. Đây là điểm khác biệt rất cơ bản giữa ngái, sung và vả.
  • Hoa: Cây ngái ra hoa vào khoảng từ tháng 1 đến tháng 4 hàng năm. Chúng xuất hiện ở đoạn gốc thân cây và các cành già với những chụm to. Trong đó, hoa đực nằm ở đỉnh cụm, những bông cái chứa bầu, bao bọc bằng đài hoa to và lông mềm, bên trong có vòi hoa.
  • Quả: Sau khi hết thời kỳ sinh trưởng của hoa, các bông cái được thay thế bằng quả, bông đực tiêu biến. Chúng có dạng hình cầu, bẹt ở núm, nhọn hơn ở cuống. So với quả sung thì màu thường xanh bóng hơn, nhọn và nhỏ, nhiều lông chứ không nhẵn. Trên quả có thể chứa những đốm trắng. Mùa quả ngái kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10. Khi chín thì chuyển màu vàng và rụng đi.

Ngoài ra, trên cây ngái thường có nhiều tầm gửi “sống nhờ”. Chúng được gọi là tầm gửi cây ngái, cũng có tác dụng chữa nhiều bệnh. Những cây này cư trú càng lâu năm thì càng hấp thu nhiều dưỡng chất của sung dại và trở nên có giá.

Phân biệt ngái, sung, vả

Trên thực tế, rất nhiều người nhầm lẫn 3 loại cây này với nhau vì chúng rất tương đồng. Tuy nhiên, xét về cả ngoại hình và dược tính, nếu quan sát và thử nghiệm kỹ bạn sẽ thấy:

Ngái sung và vả rất dễ nhầm lẫn với nhau, nhưng nếu quan sát kỹ lá, quả thì có thể phân biệt được
Ngái sung và vả rất dễ nhầm lẫn với nhau, nhưng nếu quan sát kỹ lá, quả thì có thể phân biệt được
  • Quả ngái được phủ lông ở ngoài, khi chín chuyển màu vàng. Sòn sung có bề mặt bên ngoài nhẵn nhụi, núm ở dưới to, khi chín cho màu đỏ hoặc đỏ cam. So về ngoại hình thì ngái thường nhỏ nhất, sau đó đến sung, và rồi đến quả vả. Hơn nữa, vả tuy to nhưng bẹt hơn sung và ngái, khi chín đỏ thắm, có nhiều mật ở núm và mùi hương rất thơm.
  • Dân gian cho rằng quả sung với quả vả, quả ngái rất giống nhau nhưng riêng ngái không ăn được. Vì vậy, rất nhiều người vẫn nhầm lẫn và thắc mắc sự thật quả ngái có ăn được không. Thực tế, ngái là một loại quả có chứa độc, nếu ăn vào có thể làm người khỏe mạnh bị say, nôn mửa hoặc tiêu chảy.
  • Về đặc điểm của lá, lá ngái thường dài và có màu xanh tươi, thô ráp. Còn lá sung hay chia góc cạnh không rõ ràng, bề mặt nhẵn và đậm màu hơn. Riêng lá cây vả lại to và tròn hơn hẳn, nhẵn nhụi, màu sắc 2 mặt đậm nhạt rất rõ ràng.

Đặc điểm phân bố

Loài cây này sinh tồn và chịu hạn rất tốt, do đó nó thích hợp với khí hậu nhiệt đới. Tuy nhiên, nơi mọc tự nhiên của chúng lại gần nguồn nước như sông, suối. Tại Việt nam, ngái có mặt ở cả những cánh rừng nguyên sinh, thứ sinh, đồng bằng hay miền núi.

  • Một số tỉnh đồng bằng, trung du và miền núi có nhiều cây này là Hải dương, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Nghệ An, Hưng Yên.
  • Trên thế giới, người ta phát hiện cây ngái ở nhiều vùng của Trung Quốc, Ấn Độ, Lào hay Malaysia.
  • Sự phân tán của chúng dựa vào dòng nước. Khi quả rụng xuống giữa mùa mưa và được cuốn trôi đi, chúng mắc lại ở đâu thì cây con mọc lên tại đó.

Ngày nay, những người nhân giống và gieo trồng ngái làm thuốc còn dùng cành già để giâm cho trồi, rễ mọc lên, tạo cây mới.

Bộ phận làm thuốc

Theo kinh nghiệm chữa bệnh của dân gian thì gần như mọi bộ phận của sung đều chữa bệnh được. Tuy nhiên cách bào chế mỗi phần là khác nhau, cụ thể như sau:

Nhiều bộ phận của cây này như búp non, lá, quả và vỏ rễ đều dùng làm dược liệu được
Nhiều bộ phận của cây này như búp non, lá, quả và vỏ rễ đều dùng làm dược liệu được
  • Lá ngái: Người ta có thể thu hoạch quanh năm, nhưng chỉ chọn loại lá bánh tẻ, không dùng những phần quá non hoặc già. Loại bỏ những chiếc bị sâu bệnh, héo. Sau đó rửa thật sạch và phơi hoặc sao khô để dùng.
  • Búp non: Loại này được dùng tươi, chỉ cần hái, ngâm rửa sạch.
  • Vỏ và thân cây: Thường được cắt về vào đầu xuân, khi cây chứa nhiều nhựa nhất và vỏ dễ bóc tách. Người ta cạo sạch lớp vỏ bên ngoài rồi đem ngâm với nước vo gạo 2 tiếng. Sau đó thì cắt thành những lát, khúc mỏng, ngắn để sao hoặc phơi khô.
  • Rễ ngái: Đối với phần này, người ta chỉ dùng vỏ của rễ. Mùa thu là thời điểm tốt nhất để đào rễ. Sau khi đào xong thì đem rửa sạch đất cát, tạp chất. Cuối cùng, đem phơi hoặc sấy khô và bảo quản để dùng dần.
  • Quả ngái: Dựa vào thời điểm chín là mùa Đông, người ta hái về trước khi trái sung rụng. Sau đó đem đốt chúng thành than và đem ngâm rượu hoặc cũng phơi sấy, dùng dần.

Ngoài các bộ phận của cây thì những dây tầm gửi trên cây này cũng được thu hoặc khi chúng đủ già. Tầm gửi cây sung thường được phơi khô, dùng theo cách sắc nước uống.

Cây ngái có tác dụng gì với sức khỏe?

Công dụng của sung rừng không chỉ được Y học cổ truyền, dân gian nhắc đến. Để giải đáp những câu hỏi lớn nhiều người đang nghi vấn, khoa học đã và đang phân tích, làm rõ dược tính của chúng.

Thành phần của cây ngái

Nhiều nghiên cứu y khoa đã chỉ ra, trong các bộ phận của cây ngái có chứa:

  • Friedlin Epifriedelanol: Chất này có vai trò giải độc, chống viêm trong nhiều trường hợp.
  • Glutinol: Chất này được ứng dụng trong điều chế thuốc chống độc, tăng nhãn áp, ngừa lão hóa, trị các bệnh ở tim, gan, cai nghiện rượu, điều trị viêm xương khớp và cải thiện trí nhớ.
  • Hợp chất béo lành mạnh: Bổ sung ngái cho cơ thể bạn cũng đồng thời cung cấp một lượng chất béo lành mạnh. Nó góp phần giảm cholesterol xấu, cải thiện tim mạch, ngừa đột quỵ và nguy cơ tiểu đường, ngăn tình trạng ứ huyết.
  • Axit Oleanolic: Axit Oleanolic có trong cây ngái và nhiều loại thảo dược khác được cho là có khả năng chống lại sự hình thành khối u. Bên cạnh đó nó cũng bảo vệ các tế bào ở gan và ngừa lão hóa.
  • Steroid: Đây là chất giúp tăng sức bền của cơ bắp và giảm mỡ thừa của cơ thể. Đồng thời nó gia tăng mật độ chất khoáng của hệ xương, hỗ trợ tổng hợp Protein.
  • Taraxerol: Chất này là một triterpen có tính kháng khuẩn, chống viêm và ngừa gốc tự do phát triển. Do vậy, cũng giống như các Axit Oleanolic trong ngái, nó tác động phần nào đến quá trình điều trị ung thư.

Công dụng trị bệnh của loại cây này không giới hạn ở đó. Từ những thành phần dược tính đã được tìm ra, các nhà khoa học còn đang tiếp tục nghiên cứu về tác dụng trị tiểu đường, ổn định đường huyết của ngái sung.

  • Theo đó, ở Ấn Độ, nhiều nhà khoa học đang đặt giả thiết rằng Ficus Hispida trong vỏ ngái có khả năng tăng glycogenesis và hỗ trợ hấp thu Glucose ngoại biên.
  • Methanol có trong lá cây này chính là một chất có thể làm giảm hoạt động của nhu động ruột và dạ dày. Do đó, người bệnh tiêu chảy ăn lá sung có thể trị bệnh. Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng lưu ý rằng dược tính này chỉ có ở lá, nếu ăn quả thì ngược lại, còn gây độc.
  • Còn tầm gửi ngái hút nhiều dưỡng chất từ cây này cũng cho tác dụng trị bệnh kiết lỵ, đại tiện lẫn máu, sốt rét…
Tầm gửi hút dưỡng chất từ cây cũng cho hiệu quả trị bệnh
Tầm gửi hút dưỡng chất từ cây cũng cho hiệu quả trị bệnh

Tác dụng theo Đông y

Theo Y học cổ truyền, lá cây ngái hơi đắng, tính mát, giúp thanh nhiệt, trừ thấp và hóa đờm. Dân gian và các thầy lang thường dùng để:

  • Giải độc.
  • Trị mụn nhọt, đinh râu.
  • Chữa bệnh ở xương cốt như viêm khớp, thoát hóa cột sống…
  • Bồi bổ gan và thận.
  • Cải thiện giấc ngủ.
  • Hỗ trợ ăn ngon.
  • Tiêu phù cho những người bị tích nước.
  • Giúp sản phụ chữa tắc sữa sau sinh, làm mát sữa, tăng tiết sữa…
  • Trị bệnh trĩ.
  • Khắc phục tình trạng tiêu chảy, đau bụng lâu dài.

MỘT SỐ BÀI THUỐC:

Chữa tiêu chảy:

Lấy 30g vỏ thân cây ngái, 20g rễ cây sống rắn, 20g rễ màng tang. Rồi đem tất cả chặt nhỏ, phơi khô, sau đó sao vàng, rồi sắc nước uống.

Chữa đau lưng và khi nhức xương:

Dùng 50g rễ ngái, 50g rễ cỏ xước, 30g dây đau xương, 30g rễ si. Sau đó đem tất cả đi sao vàng, rồi sắc uống.

Khi bị bí tiểu tiện do nhiệt:

Lấy 50g rễ ngái, 50g thổ phục linh, 30g rễ cối xay, 20g mã đề, 20g cỏ xước, rồi đem sắc uống trong ngày.

Chữa phù thận cấp và mạn tính ( nếu tuổi trẻ phù thận cấp):

Lấy 40g tầm gửi cây ngái, 30g tầm gửi cây dâu tằm, 30g cây rau dừa nước, 15g cây mã đề, 15 – 20g cỏ nhọ nồi, 30g lá ngũ trảo. Cho nước ngập thuốc, sắc đến cạn còn một bát sắc 3 lần. Chia đều 3 lần uống trong ngày, sau ăn no và nhớ kiêng ăn mặn.

Khi bị chứng phong thấp, nhức mỏi và sưng khớp:

Dùng 40g rễ cây ngái (thái phơi khô), 20g tầm gửi cây ngái (phơi khô), 15g rễ cây cỏ xước (phơi khô tẩm rượu). Thêm 15g rễ cây xấu hổ tía (phơi khô), vỏ quả cam sành (thái phơi khô sao vàng), rễ cây cam sành (phơi khô), rễ cây muống biển (tẩm nước gạo 1 đêm phơi khô), mỗi vị 12g. Sau đó đem đi sắc nước uống trong ngày.

LIÊN HỆ MUA SẢN PHẨM
Hotline: 0939 714 275
tiemthuocbacsaithanh

Thuocbacsaithanh

CÁC BÀI VIẾT LIÊN QUAN:
– Ích mẫu: Thần dược cho phái nữ
– Đinh hương: Vị thuốc quý