BÀI 259 – Vị thuốc BẰNG SA (hàn the)

Tên gọi

Tên dùng trong đơn thuốc: Bằng sa, Bồng sa, Nguyệt thạch.

Tên tiếng Hán: 硼砂

Bào chế: Nung qua lửa tán bột dùng (Thực tế phi lên như Phèn chua phi để dùng N.D).

Bằng sa tức Hàn the còn gọi là Nguyệt thạch. Bằng sa dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Đơn phòng giám nguyên với nguyên tên là Đại Bằng sa là tinh thể màu trắng do khoáng chất Bằng sa (Borax) tinh chế thành. Lúc bào chế, đem nguyên liệu Bằng sa khô sạch tán bột là Bằng sa. Hàn the tan ít trong nước lạnh, tan nhiều trong nước nóng, không tan trong cồn 90 độ, tan nhiều trong glycerin.

Tính vị qui kinh:

Bằng sa vị ngọt mặn, tính lương, qui kinh Phế Vị.

Theo các sách thuốc cổ:

  • Sách Bản thảo cương mục: ngọt hơi mặn, lương không độc.
  • Sách Bản thảo tùng tân: ngọt mặn mà lương.
  • Sách Lôi công bào chế dược tính giải: nhập Phế kinh.
  • Sách Bản thảo hội ngôn: nhập thủ thái âm, túc dương minh kinh.

Thành phần chủ yếu:

Sodium tetraborate ( Na2B4O710H2O).

Theo Y học cổ truyền:

Bằng sa có tác dụng: thanh nhiệt, giải độc, tiêu sưng, phòng thối, thanh phế hóa đàm.

Chủ trị các chứng: cổ họng sưng đau, mồm lưỡi lỡ loét, mắt đỏ sưng đau, ho đàm nhiệt.

Trích đoạn Y văn cổ:

  • Sách Nhật hoa tử bản thảo: ” tiêu đàm chỉ khái, phá trưng kết hầu tý”.
  • Sách Bản thảo cương mục: ” trị thượng tiêu đàm nhiệt, sinh tân dịch, khứ khẩu khí, tiêu chướng ế ( mộng thịt), trừ ế cách phản vị ( nấc cụt, ợ), hòa khoái kết ứ nhục âm hội (loét lở vùng âm hộ), ác sang và các chứng ở mồm lợi ( sắc trắng mà nhẹ cho nên trừ được nhiệt ở vùng hung cách thượng tiêu).
  • Sách Bản thảo hội ngôn: ” Bằng sa hóa đàm kết, thông hầu tý, khử mộng thịt trong mắt”.
  • Sách Bản thảo cầu nguyên: ” Bằng sa sống có tác dụng trừ thối, nung lên có tác dụng sinh cơ”.

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

  • Bằng sa tính kiềm nhẹ, uống dung dịch Bằng sa có thể phòng nhiễm khuẩn đường niệu, nhất là lúc nước tiểu có tính acid thuốc có thể chuyển thành kiềm.
  • 10% dung dịch Bằng sa có tác dụng ức chế nhiều loại vi khuẩn như trực khuẩn đại tràng, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn thương hàn, phó thương hàn, trực khuẩn lî shigella, trực khuẩn biến dạng tụ cầu khuẩn. Dùng phương pháp kiểm tra trên giấy cũng chứng minh là thuốc có tác dụng ức chế đối với phế cầu khuẩn, não mô cầu khuẩn, liên cầu khuẩn dung huyết.
  • Dùng ngoài, thuốc có tác dụng thu liễm, bảo vệ niêm mạc và da.

Ứng dụng lâm sàng:

Trị bong gân lưng: Tác giả dùng Hàn the tán bột mịn hoặc chế thành 3% thuốc nhỏ mắt vào khóe mắt trong và ngoài đồng thời vận động lưng. Trị 50 ca, 46 ca qua 1 lần là khỏi, sau 1/2 giờ hết đau, 2 ca chuyển biến tốt và 2 ca không khỏi ( Chu chí Đông Tạp chí Trung y dược Thượng hải 1986, 11:31).

Trị động kinh:

  • Trường hợp ít lên cơn: dùng Bằng sa, mỗi lần uống 0,3g, ngày 3 lần.
  • Nếu lên cơn dày: mỗi lần uống 0,5g, ngày 3 lần. Nếu cơn lâu hoặc liên tục, mỗi lần uống 1g, ngày uống 4 lần, đồng thời uống thuốc an thần ( gardenal, luminal sodium.). Trị 10 ca đều có kết quả ( Phùng Khải Nam, Tạp chí Y Trung cấp 1966,5:299).

Trị ban do mồ hôi: Lấy nước dưa vàng ( Hoàng qua) trộn bột Bằng sa đến mức bảo hòa. Dùng nước sôi rửa sạch vùng ban rồi bôi nước dưa lên ngày 1 lần. Trị 18 ca: khỏi 17 ca, không kết quả 1 ca ( Lưu Hiếu Mẫn, Tạp chí Trung y Hà nam 1985,4:30).

Trị loét mồm lợi, cổ họng sưng đau, viêm tai giữa cấp mạn tính:

  • Bằng băng phiến ( xem bài Băng phiến): thổi thuốc vào vùng bị bệnh.
  • Bằng sa, Sinh Thạch cao, Băng phiến, Hàn thủy thạch, móng tay người: lượng bằng nhau tán bột rất mịn thổi vào vùng đau. Trị cổ họng sưng đau.
  • Hàn the, Ô mai: bằng nhau tán nhỏ làm viên bằng hạt ngô, mỗi lần ngậm 1 viên cho tan dần. Trị viêm họng.

Trị ho nhiều đàm:

  • An phế ninh thấu hoàn: Bằng sa, Tang bì, Nhị trà, Tô tử, Cam thảo đều 30g, tán bột mịn, mật làm thành viên (hoàn), mỗi hoàn 6g. Uống ngày 2 lần sáng và tối, mỗi lần 1 viên ( hoàn).

Liều lượng thường dùng và chú ý:

  • Dùng ngoài, liều lượng vừa đủ, tán bột rất mịn bôi khô hoặc trộn nước bôi. Hoặc cho bột vào nước sôi để nguội ngâm rửa vết thương.
  • Uống trong: 1,5 – 3g, cho vào thuốc hoàn tán.
  • Chú ý: lúc dùng uống trong cần thận trọng vì thuốc có độc lúc dùng quá liều.
  • Theo sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt nam của Đỗ tất Lợi thì gần đây thử độc tính trên súc vật cho thấy: chó mèo dùng Hàn the bị tổn thương gan, chậm lớn và có thể tử vong nếu dùng liều cao, súc vật thí nghiệm bị teo dịch hoàn dẫn tới liệt dương, tổn thương gan thận ( Gounelle – Boudene).
  • Khi ăn vào Hàn the tích lũy ở lớp mỡ dưới da, ở gan và não. Chỉ cần 3 – 5g Hàn the cho 1 người lớn, đã thấy khó chịu toàn thân, ăn mất ngon, lâu ngày suy gan dẫn tới suy nhược cơ thể. Tổ chức y tế thế giới năm 1985 đã cấm dùng Hàn the và acid boric trong thực phẩm với bất cứ liều lượng nào.

LIÊN HỆ MUA SẢN PHẨM:
0939 714 275
tiemthuocbacsaithanh

Thuocbacsaithanh

CÁC BÀI VIẾT LIÊN QUAN:
DƯỢC LIỆU TỪ THIÊN NHIÊN LÀ GÌ?
TỲ BÀ DIỆP LÀ GÌ?

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *